Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    ThoTinhCuoiMuaThu.mp3 Vang_trang.mp3 Mauchuvietbangchuhoadung.png MOV00344.flv Thiepdauxuan10.swf 1015.jpg 914.jpg 819.jpg 715.jpg 618.jpg 518.jpg 417.jpg 335.jpg 249.jpg 186.jpg 73_2.jpg 7n2_4.jpg DSC00888.jpg DSC00885.jpg DSC00883.jpg

    Thành viên trực tuyến

    3 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với Website của Nguyễn Thị Ngọc.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Bài 11. Bếp lửa

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Ngọc (trang riêng)
    Ngày gửi: 20h:42' 22-11-2022
    Dung lượng: 6.8 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    1. Trong chương trình Ngữ văn THCS em đã được học bài thơ nào nói về tình bà cháu?
    Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh
    2. Em hãy đọc những câu thơ có 2 hình ảnh dưới đây ?

    Trên đường hành quân xa
    Dừng chân bên xóm nhỏ

    Tay bà khum soi trứng
    Dành từng quả chắt chiu
    Cho con gà mái ấp

    Văn bản:

    BẾP LỬA
    (Bằng Việt)

    Văn bản:

    BẾP LỬA
    (Bằng Việt)

    Tìm hiểu chung:

    a) Tác giả Bằng Việt:
    - Tên thật: Nguyễn Việt Bằng
    - Sinh năm 1941 – Thạch Thất - Hà Tây (cũ)
    nay là Hà Nội.
    - Thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong
    kháng chiến chống Mĩ
    - Phong cách thơ của ông: trầm lắng suy tư,
    mượt mà trong sáng.
    *Tác phẩm chính:
    - Hương cây - Bếp lửa.
    - Bếp lửa khoảng trời.

    Tác phẩm :

    “Bà nội tôi là một phụ nữ nông dân chân chất, bình dị.
    Với tôi, bà là hiện thân của sự cần cù, nhẫn nại và đức
    hy sinh.”

    “Tôi viết bài thơ “Bếp lửa” năm
    1963, lúc đang học năm thứ 2
    Đại học tổng hợp Quốc gia Kiev
    (Ukraina). Mùa đông nước Nga
    rất lạnh, phải đốt lò để sưởi. Ngồi
    sưởi lửa, tôi bỗng nhớ đến “Bếp
    lửa” quê nhà, nhớ bà tôi, nhớ
    người nhóm bếp. Xa bà, xa gia
    đình khi đã trưởng thành tức là có
    độ lùi xa để nhớ và suy ngẫm
    những giá trị tinh thần nên bài thơ
    viết rất nhanh. Viết “Bếp lửa”, tôi
    chỉ muốn giãi bày tâm trạng thật
    của lòng mình”

    *Xuất xứ:
    - Sáng tác năm 1963, khi đó tác giả
    đang là sinh viên học Luật ở nước
    ngoài.
    - Bài thơ trích trong tập “Hương
    cây – Bếp lửa” (in năm 1968).

    Bố cục:

    BẾP LỬA
    Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
    Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
    Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.
    Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
    Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
    Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
    Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
    Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!
    Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
    Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
    Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà
    Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
    Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
    Mẹ cùng cha công tác bận không về
    Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
    Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học.
    Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,
    Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
    Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?

    Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
    Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
    Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
    Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh:
    “ Bố ở chiến khu bố còn việc bố
    Mày có viết thư chớ kể này, kể nọ
    Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”
    Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
    Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
    Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng….
    Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
    Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ
    Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
    Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
    Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
    Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
    Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
    Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!
    Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
    Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
    Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:
    Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?...
    (Bằng Việt)

    c) Bố cục:

    Hình ảnh bếp lửa khơi
    khơi nguồn nỗi nhớ.
    Kỷ niệm tuổi thơ sống
    bên bà gắn với bếp
    lửa
    Suy nghĩ về bà và
    bếp lửa.
    Lòng biết ơn sâu
    sắc của cháu với
    bà.

    Khổ
    thơ đầu
    4 khổ thơ tiếp theo (khổ 2-> 5)

    Khổ 6

    Khổ thơ cuối

    Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
    Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
    Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.

    1. Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cho dòng hồi tưởng, cảm xúc
    về bà

    2. Những hồi tưởng về bà và tình bà cháu:
    Kí ức tuổi thơ bên bà được thể hiện
    qua các hình ảnh nào?

    BẾP LỬA
    Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
    Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
    Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.
    Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
    Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
    Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
    Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
    Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!
    Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
    Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
    Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà
    Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
    Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
    Mẹ cùng cha công tác bận không về
    Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
    Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học.
    Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,
    Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
    Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?

    Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
    Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
    Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
    Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh:
    “ Bố ở chiến khu bố còn việc bố
    Mày có viết thư chớ kể này, kể nọ
    Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”
    Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
    Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
    Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng….
    Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
    Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ
    Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
    Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
    Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
    Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
    Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
    Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!
    Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
    Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
    Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:
    Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?...
    (Bằng Việt)

    Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói

    Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi

    Hình ảnh tả thực, gợi tả nạn đói năm Ất Dậu 1945 đã cướp đi sinh mạng của hơn hai triệu
    người dân

    Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy

    BẾP LỬA
    Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
    Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
    Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.
    Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
    Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
    Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
    Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
    Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!
    Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
    Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
    Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà
    Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
    Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
    Mẹ cùng cha công tác bận không về
    Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
    Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học.
    Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,
    Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
    Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?

    Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
    Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
    Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
    Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh:
    “ Bố ở chiến khu bố còn việc bố
    Mày có viết thư chớ kể này, kể nọ
    Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”
    Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
    Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
    Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng….
    Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
    Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ
    Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
    Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
    Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
    Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
    Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
    Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!
    Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
    Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
    Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:
    Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?...
    (Bằng Việt)

    Âm thanh tu hú khắc khoải gọi hè

    Vì sao âm thanh tiếng tu hú lại ám ảnh tâm trí người
    cháu sâu đậm đến vậy?

    BẾP LỬA
    Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
    Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
    Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.
    Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
    Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
    Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
    Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
    Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!
    Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
    Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
    Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà
    Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
    Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
    Mẹ cùng cha công tác bận không về
    Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
    Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học.
    Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,
    Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
    Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?

    Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
    Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
    Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
    Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh:
    “ Bố ở chiến khu bố còn việc bố
    Mày có viết thư chớ kể này, kể nọ
    Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”
    Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
    Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
    Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng….
    Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
    Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ
    Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
    Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
    Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
    Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
    Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
    Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!
    Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
    Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
    Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:
    Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?...
    (Bằng Việt)

    BẾP LỬA
    Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
    Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
    Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.
    Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
    Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
    Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
    Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
    Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!
    Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
    Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
    Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà
    Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
    Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
    Mẹ cùng cha công tác bận không về
    Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
    Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học.
    Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,
    Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
    Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?

    Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
    Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
    Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
    Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh:
    “ Bố ở chiến khu bố còn việc bố
    Mày có viết thư chớ kể này, kể nọ
    Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”
    Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
    Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
    Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng….
    Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
    Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ
    Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
    Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
    Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
    Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
    Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
    Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!
    Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
    Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
    Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:
    Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?...
    (Bằng Việt)

    Giặc tàn phá xóm làng

    Từ câu thơ: “Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh” Thể hiện
    đức tính gì của bà?

    BẾP LỬA
    Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
    Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
    Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.
    Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
    Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
    Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
    Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
    Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!
    Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
    Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
    Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà
    Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
    Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
    Mẹ cùng cha công tác bận không về
    Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
    Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học.
    Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,
    Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
    Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?

    Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
    Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
    Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
    Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh:
    “ Bố ở chiến khu bố còn việc bố
    Mày có viết thư chớ kể này, kể nọ
    Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”
    Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
    Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
    Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng….
    Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
    Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ
    Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
    Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
    Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
    Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
    Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
    Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!
    Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
    Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
    Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:
    Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?...
    (Bằng Việt)

    II. Đọc – hiểu văn bản:
    1. Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cho dòng hồi tưởng, cảm xúc về
    bà:
    2. Những hồi tưởng về bà và tình bà cháu:

    3. Cảm nghĩ của cháu về cuộc đời bà:

    Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa 
    Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ 
    Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm 
    Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm, 
    Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi, 
    Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui, 
    Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ... 
    Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa! 

    II. Đọc – hiểu văn bản:
    1. Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cho dòng hồi tưởng, cảm xúc về
    bà:
    2. Những hồi tưởng về bà và tình bà cháu:

    3. Cảm nghĩ của cháu về cuộc đời bà:
    4. Lòng biết ơn sâu sắc của cháu với bà:

    Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm
    tàu
    Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
    Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc
    nhở:
    Sớm mai này bà nhóm bếp lên
    chưa?...

    Những gì là thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi người đều có
    → Không thể nào quên được bếp lửa, tình cảm của bà.
    sức tỏa sáng, nâng đỡ con người suốt hành trình trình dài
    rộng của cuộc đời. Tình yêu thương và lòng biết ơn chính là
    một biểu Khổ
    hiện thơ
    cụ thể
    tìnhýyêu
    thương,
    gắn bó
    cuốicủa
    mang
    nghĩa
    triết lýsựthầm
    kínvới
    gì?gia
    đình, quê hương và đó cũng là sự khởi đầu của tình yêu con
    người, tình yêu đất nước.

    Nghệ thuật :
    - Sáng tạo hình ảnh bếp lửa gắn với hình ảnh người bà.
    - Kết hợp các yếu tố biểu cảm, miêu tả, tự sự, bình luận.
    Ý nghĩa: Bài thơ gợi lại những kỷ niệm về bà và tình bà cháu. Thể hiện lòng kính
    yêu trân trọng và biết ơn của cháu đối với bà cũng là đối với gia đình, quê
    hương, đất nước.
     
    Gửi ý kiến